Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Sell Down / Tài Trợ Từ Bên Ngoài

Phần tài trợ của tập đoàn được chào bán cho những người mua bên ngoài nhóm bảo lãnh. Tài trợ có thể là phần tham gia vào khoản vay công nghiệp và thương mại với nhiều bên cho vay, hoặc trong hoạt động bảo lãnh chứng khoán. Một phần chứng khoán được chào bán sẽ được phân phối thông qua nhóm bán, hoạt động như đại diện cho bên bảo lãnh. Tổng thể, việc bán ra bên ngoài càng nhiều thì lợi nhuận cho nhà quản lý hay nhà bảo lãnh chính càng cao.

Self-Service Banking / Nghiệp Vụ Ngân Hàng Tự Phục Vụ

Hệ thống ngân hàng lẻ cho phép khách hàng tự thực hiện nhiều giao dịch mà không cần gặp giao dịch viên. Lý thuyết này được hỗ trợ bởi việc tự động hóa nhiều dịch vụ, như rút và gửi tiền, giúp tạo ra nguồn tiền gửi ổn định, tăng trưởng với chi phí thấp. Số lượng giao dịch đủ giúp giảm chi phí và tăng tiện lợi, vì khách hàng không bị giới hạn thời gian làm việc và có thể truy cập tài khoản qua mạng lưới máy rút tiền tự động. Xem: AUTOMATED TELLER MACHINE; CUSTOMER ACTIVATED TERMINAL; HOME BANKING; INTERNET BANKING; TELEPHONE BILL PAYMENT; 24-HOUR BANKING.

Self-Regulation Organization / Tổ Chức Tự Điều Tiết

Các tổ chức kinh doanh tự xây dựng quy tắc riêng trong giao dịch. Họ cấp giấy phép, chấp thuận doanh nghiệp tham gia hợp đồng thị trường, đồng thời giám sát hoạt động của các công ty này. Ví dụ như Hiệp hội quốc gia các Nhà giao dịch Chứng khoán, Ủy ban Quy tắc Chứng khoán đô thị (MSRB), Thị trường giao dịch Chứng khoán New York và Thị trường giao dịch Chứng khoán Mỹ. Các thành viên của MSRB phải tuân thủ quy định do Hiệp hội quốc gia các Nhà giao dịch Chứng khoán áp dụng với các nhà giao dịch phi ngân hàng. Với các định chế tài chính, họ còn bị giám sát bởi cơ quan quản lý ngân hàng.

Self-Insurace / Tự Bảo Hiểm

Bảo vệ chống thua lỗ bằng cách lập quỹ riêng từ lợi nhuận, thay vì mua hợp đồng bảo hiểm. Phương pháp này thường áp dụng khi tự tài trợ chi phí lỗ rẻ hơn so với bảo hiểm truyền thống, hoặc khi không thể tìm được công ty bảo hiểm, hoặc chi phí bảo hiểm quá cao. Ví dụ, một kế hoạch tự bảo hiểm có thể bao gồm việc chi trả nợ phải trả chung, lương công nhân, nợ của ban giám đốc hoặc nhân viên ngân hàng, hay một thỏa thuận phối hợp vốn do hiệp hội thương mại tài trợ. Một số công ty chọn hình thức tự bảo hiểm thông qua chi nhánh sở hữu toàn bộ ở nước ngoài như quần đảo Bahamas, Cayman, hoặc thông qua công ty bảo hiểm con thuộc quyền kiểm soát.

Self-Directed IRA / Tài Khoản Hưu Trí Tự Điều Tiết

Tài khoản hưu trí cá nhân cho phép người dùng linh hoạt chuyển đổi giữa các loại hình đầu tư, như cổ phiếu, chứng khoán thu nhập cố định, hay tài khoản tiết kiệm ngắn hạn hoặc dài hạn trong ngân hàng hoặc tổ chức tiết kiệm. Người sở hữu cũng có thể tự quản lý danh mục đầu tư hoặc chuyển đổi số tiền sang các hình thức khác.

Self-Dealing / Tự Trục Lợi

**Ngân hàng** Trường hợp người cho vay không trung thực khi phê duyệt khoản vay cho nhân viên hoặc giám đốc ngân hàng. Họ có thể cấp vốn với điều kiện ưu đãi bất thường cho người trong nội bộ, hoặc nhận tiền riêng để thực hiện các khoản vay trái phép. **Ủ thác** Trường hợp người được giao quản lý tài sản của người khác hoặc tài sản của người đã mất, lại thực hiện giao dịch vì lợi ích cá nhân, vi phạm trách nhiệm được giao.

Self-Amortizing Mortgage / Cầm Cố Tự Khấu Trừ

Một khoản vay thế chấp nhà ở thường được trả hết trong một khoảng thời gian nhất định, như 15 hoặc 30 năm. Người vay trả tiền gốc và lãi theo các kỳ thanh toán định kỳ. Người vay không cần thanh toán toàn bộ số tiền gốc vào cuối kỳ. Người cho vay có thể cung cấp bảng khấu trừ chi tiết, cho thấy số tiền gốc và lãi đã trả trong suốt toàn bộ thời gian vay.

Segregation / Phân Chia; Phân Tách

Quy tắc của Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái yêu cầu các thương nhân – môi giới phải giữ riêng các tài khoản khách hàng để duy trì tín dụng bảo chứng từ ngân hàng. Việc kết hợp tài khoản khách hàng chỉ được phép nếu có sự đồng ý của khách hàng. Theo yêu cầu của Tổng kiểm toán Tiền tệ và Ủy ban Dự trữ Liên bang, các ngân hàng phải tách biệt tài sản giao dịch và chứng khoán được giữ để trao đổi với các khoản vay và đầu tư. Các tài khoản được quản lý bởi bộ phận ủy thác ngân hàng hoạt động dưới khả năng thụ ủy, đảm bảo tính riêng biệt và trách nhiệm của các tài khoản ủy thác.

Security Agreement / Bản Thỏa Thuận Bảo Đảm

Thỏa thuận bảo đảm giúp người cho vay có quyền kiểm soát các tài sản hoặc bất động sản được dùng làm tài sản thế chấp. Bản thỏa thuận này được ký bởi người vay, mô tả tài sản thế chấp cùng địa điểm cụ thể, giúp người cho vay xác định rõ tài sản và có quyền bán hoặc xử lý nó nếu người vay không trả nợ. Thỏa thuận có thể bao gồm các điều khoản về khoản vay, điều chỉnh việc tạm ứng tiền, lịch thanh toán vốn gốc và lãi, hoặc yêu cầu người vay mua bảo hiểm toàn bộ cho tài sản thế chấp. Thỏa thuận có thể đề cập đến quyền giữ thế chấp tài sản vô hình như các khoản phải thu, hoặc quyền giữ thế chấp tài sản có sở hữu, ví dụ như chứng chỉ cổ phần, cho đến khi khoản vay được trả hết. Trong một số trường hợp, thỏa thuận bảo đảm cũng được lập thành báo cáo tài trợ và công chứng tại văn phòng công chứng, nếu có chữ ký của cả hai bên.

Securities Subsidiary / Công Ty Chi Nhánh Chứng Khoán

Các công ty được kiểm soát bởi ngân hàng mẹ hoặc công ty tài chính mẹ chịu trách nhiệm bảo lãnh phát hành và phân phối các loại chứng khoán như thương phiếu thương mại, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty cho nhà đầu tư. Những công ty này, được gọi là công ty theo điều khoản 20 (dựa trên Đạo luật Glass-Steagall), được thành lập năm 1987 khi Ủy ban Dự trữ Liên bang cho phép các công ty chứng khoán do ngân hàng sở hữu bảo lãnh phát hành và giao dịch một số lượng giới hạn thương phiếu, trái phiếu doanh thu đô thị. Năm 1990, Fed mở rộng quyền cho các công ty giao dịch cổ phiếu và trái phiếu công ty. Việc ngân hàng bảo lãnh phát hành chứng khoán công ty ban đầu bị giới hạn ở mức 5% doanh thu ngân hàng. Mức giới hạn này sau đó được nâng lên 25% tổng doanh thu năm 1996. Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999 bãi bỏ các giới hạn về số lượng bảo lãnh phát hành, miễn là công ty ngân hàng đáp ứng điều kiện về vốn điều lệ. Đạo luật hiện đại hóa quy định giới hạn đầu tư của ngân hàng mẹ vào công ty chi nhánh chứng khoán là 45% tài sản hợp nhất hoặc 50 tỷ đô la, chọn con số nhỏ hơn. Năm 1999, Hoa Kỳ có 51 công ty chứng khoán do ngân hàng sở hữu hoạt động.

Securities Loan / Khoản Vay Thế Chấp Chứng Khoán

Ngân hàng cho vay với tài sản đảm bảo là các chứng khoán có thể giao dịch. Các khoản vay này được điều chỉnh bởi Quy định T nếu do thương nhân-môi giới thực hiện, Quy định U nếu do ngân hàng thực hiện, và Quy định G nếu do các tổ chức khác thực hiện. Các quy định này xác định giới hạn bảo đảm cho tín dụng có thể mở rộng tùy theo loại chứng khoán. Loại vay này còn gọi là khoản vay của nhà môi giới hoặc khoản vay theo yêu cầu của nhà môi giới.

Securities Investor Protection Corporation (SIPC) / Công Ty Bảo Vệ Nhà Đầu Tư Chứng Khoán

Công ty này được Chính phủ tài trợ, không hoạt động vì lợi nhuận, được thành lập năm 1970 để bảo vệ khách hàng của các công ty môi giới có bảo hiểm lên đến 500.000 USD mỗi tài khoản. SIPC không có quyền kiểm soát hay hỗ trợ các công ty gặp khó khăn. Công ty được tài trợ từ phí thành viên và thu nhập từ danh mục đầu tư, đồng thời có hạn mức tín dụng với Bộ Tài chính Mỹ. Một phần trong bảy thành viên của Ủy ban được Tổng thống chỉ định, hai thành viên còn lại do Ủy ban Thống đốc hệ thống Dự trữ Liên bang và Thư ký Bộ Tài chính đề xuất. Ngoài bảo hiểm của SIPC, nhiều công ty môi giới còn được bảo vệ bằng bảo hiểm tư nhân.

Securities And Exchange Act Of 1934 / Đạo Luật Chứng Khoán Và Hối Đoái Năm 1934

Đạo luật được Quốc hội thông qua, thành lập Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái, một cơ quan độc lập, nhằm thực thi các luật về chứng khoán Liên bang. Đạo luật mở rộng quy định đăng ký và công khai trong Đạo luật Chứng khoán năm 1993, áp dụng cho tất cả công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc gia, cũng như các công ty có tài sản vượt quá 1 triệu USD và hơn 500 cổ đông. Các công ty này bắt buộc phải đăng ký hồ sơ với thị trường chứng khoán và Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái. Đạo luật cũng quy định về công khai thông tin trong các cuộc chào mua cổ phần. Trong đó, một tổ chức có thể mua thêm cổ phần từ các cổ đông khác. Đạo luật cũng miễn trừ các ngân hàng được cấp phép tiểu bang và ngân hàng Quốc gia khỏi việc đăng ký như thương nhân-môi giới với Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái (Đạo luật GLASS_STEAGALL). Quy định này giới hạn ngân hàng chỉ được bảo lãnh các chứng khoán đạt tiêu chuẩn ngân hàng, chủ yếu là trái phiếu Chính phủ, khiến các quy định sau đó trở nên không cần thiết. Đạo luật GRAMM_LEACH_BILLEY năm 1999 cho phép ngân hàng giao dịch rộng rãi các chứng khoán qua các chi nhánh. Điều này đã điều chỉnh quy định trong Đạo luật Chứng khoán và Hối đoái, đồng thời đưa hoạt động của Thương nhân-Môi giới ngân hàng vào giám sát của Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái.

Securities Act Of 1993 / Đạo Luật Chứng Khoán Năm 1993

Đạo luật được Quốc hội thông qua yêu cầu các công ty phải đăng ký chứng khoán nếu dự định bán cho công chúng qua thương mại liên tiểu bang hoặc thông qua thư. Công ty cần công khai thông tin tài chính liên quan, cùng các dữ liệu khác như giá chào bán và số lượng cổ phần. Thông tin này sẽ được trình bày trong báo cáo đăng ký gửi cho Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái. Báo cáo này còn được gọi là bản quảng bá.

Secured Electronic Transaction (SET) / Giao Dịch Điện Tử Bảo Mật

Phương thức thanh toán được bảo vệ bởi Mastercard và Visa, cùng với phần lớn các đối tác trong ngành thương mại điện tử. Điều này tạo điều kiện để truyền thông tin thanh toán thẻ an toàn qua internet và các mạng lưới khác. SET là tiêu chuẩn ngành giúp mã hóa thông tin thẻ tín dụng, ngăn các nhà bán hàng tiếp cận dữ liệu của khách hàng. SET giúp các nhà bán hàng xác định người mua, đồng thời bảo vệ người mua bằng cách gửi thông tin thanh toán trực tiếp đến ngân hàng phát hành thẻ để xác nhận và xử lý giao dịch.

Secured Creditor / Chủ Nợ Được Bảo Đảm

Người nắm giữ quyền thế chấp hoặc quyền ưu tiên trên tài sản. Người cho vay giữ quyền ưu tiên trong tài sản của người vay. Ngân hàng có quyền ưu tiên trên tài sản của người vay được gọi là chủ nợ được đảm bảo.

Secured Credit Card / Thẻ Tín Dụng Có Đảm Bảo

Thẻ tín dụng của ngân hàng được bảo đảm bằng tài khoản tiết kiệm. Công ty phát hành có quyền giữ lại số tiền tương đương hạn mức tín dụng trên tài khoản tiết kiệm của người dùng. Nếu chủ thẻ không thể thanh toán, công ty có thể dùng tiền trong tài khoản tiết kiệm để trả các hóa đơn. Loại thẻ này thường được cấp cho những người có khả năng chi trả không ổn định, dựa trên lịch sử tín dụng của họ.

Second Mortgage / Cầm Cố Thứ Cấp

Cầm cố phụ thuộc vào quyền giữ thế chấp do cầm cố thứ nhất tạo ra, nhưng có ưu tiên cao hơn các quyền giữ thế chấp sau. Đôi khi gọi là Ủy thác thứ cấp, cầm cố thứ cấp thường có thời hạn thanh toán ngắn hơn, lịch khấu trừ cố định và có thể trả dứt bằng một khoản lớn. Người nắm giữ cầm cố thứ cấp có quyền thứ cấp so với người nắm giữ cầm cố đầu tiên trong trường hợp phát mãi. Tiền lãi đến hạn được tính dựa trên toàn bộ số dư gốc vốn nợ, được tạm ứng cho người vay sau ba ngày bỏ qua yêu cầu. Thực tế, cầm cố thứ cấp là khoản vay trả góp được bảo đảm bằng bất động sản của người vay, về mặt kỹ thuật là thỏa thuận tín dụng đóng với thời biểu thanh toán cố định. Khác với HOME EQUITY CREDIT. Cầm cố thứ cấp được dùng cho nhiều mục đích như nâng cấp nhà, đầu tư kinh doanh, tạo tiền mặt. Chúng cũng thường được dùng thay thế cho cầm cố thứ nhất nếu đã mua nhà. Xem RIGHT OF RESCISSION.

Secondary Reserve / Dự Trữ Thứ Cấp

Các tài sản được đầu tư vào các chứng khoán khả mại ngắn hạn, thường là Tín phiếu Kho bạc và Chứng khoán Chính phủ ngắn hạn. Dự trữ Pháp định được giữ tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang không sinh lãi. Dự trữ thứ cấp là nguồn thanh khoản bổ sung, sinh lãi và có thể dùng để điều chỉnh vị thế dự trữ của ngân hàng. Nếu nhu cầu khoản vay thấp, quỹ tiền gửi thường được đầu tư vào các chứng khoán ngắn hạn có thể chuyển thành tiền mặt. Dự trữ thứ cấp không được ghi riêng trong báo cáo tài chính. Xem MANAGED LIABILITIES; RESERVE REQUIREMENTS.

Secondary Mortgage Market / Thị Trường Cầm Cố Thứ Cấp

Thị trường quốc gia nơi các khoản cầm cố nhà cửa được tập hợp và bán cho nhà đầu tư. Đây là thị trường thứ cấp, bắt nguồn từ Fannie Mae, Freddie Mac và Ginnie Mae. Thị trường này giúp các nhà cho vay cầm cố có thêm khả năng thanh khoản. Các khoản cầm cố được bán qua các tổ chức tập hợp vay để bán lại, hoặc qua đầu tư trực tiếp với nhà đầu tư. Thị trường thứ cấp, dù do các cơ quan liên bang thống lĩnh, cũng có các công ty tư nhân tham gia. Những công ty này mua các khoản cầm cố truyền thống từ người cho vay ban đầu, sau đó bán lại như nợ cầm cố bảo đảm hoặc thông qua tổ chức đầu tư bất động sản. Điểm quan trọng duy nhất của thị trường thứ cấp là tạo ra thị trường quốc gia để bán lại các khoản cầm cố nhà ở. Điều này giúp người cho vay ban đầu, dù ở đâu, tiếp cận được nguồn vốn từ quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm và các định chế mua trái phiếu đảm bảo. Người mua nhà được hỗ trợ tài trợ phù hợp. Sự phát triển của thị trường thứ cấp bắt đầu từ những năm 1960, khi thành lập Hiệp hội Cầm cố Quốc gia thuộc Chính phủ. Điều này thúc đẩy các thay đổi khác: chuẩn hóa khoản vay cầm cố; đa dạng hóa tài sản cầm cố từ người cho vay. Hầu hết các cơ quan thị trường thứ cấp có chương trình mua các khoản cầm cố hai tuần với lãi suất cố định, điều chỉnh. Đây cũng là khởi đầu của thị trường cầm cố quốc gia, nơi các cơ quan cho vay (có văn phòng đa tiểu bang hoặc toàn quốc) có thể phát hành khoản vay mới với lãi suất cạnh tranh, rồi nhanh chóng bán lại cho nhà đầu tư với cam kết giao hàng kỳ hạn. Các công ty phi chính phủ hoặc tổ chức mua vay từ trung gian trở nên sôi động trong những năm 1980, ví dụ như Maggie Mae do Công ty Bảo hiểm Đảm bảo Cầm cố thành lập, hoặc HOMAC Home Mortgage Access Corp do Hiệp hội Xây dựng Nhà Quốc gia tổ chức. Xem thêm: COMPUTERIZED LOAN ORGANIZATION; MORTGAGE-BACKED BOND; MORTGAGE-BACKED SECURITIES; MORTGAGE BANKERS; PASS-THROUGH SECURITY; PAY-THROUGH SECURITY.
Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55