Banking Act of 1933 / Đạo Luật 1933 Về Nghiệp Vụ Ngân Hàng
Luật quan trọng về cách ngân hàng lớn được thông qua bởi Quốc hội nhằm cứu vãn tình hình bất ổn tài chính của hệ thống ngân hàng trong cuộc đại suy thoái. Luật này tạo ra Ủy ban Thị trường Mở Liên bang và Công ty Bảo hiểm Tiền Gởi Liên bang. Bộ luật trao quyền kiểm soát chính sách tiền tệ cho Ủy ban Các Thống đốc Cục Dự Trữ Liên bang. Các điều 16, 20, 21, 32 của luật phân biệt rõ ràng giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư, được gọi là Đạo luật Glass-Steagall. Đạo luật này giữ nguyên sự phân biệt pháp lý giữa hai loại hình ngân hàng, cho đến khi các quy định này bị bãi bỏ bởi Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999.
Unwinding / Dỡ Bỏ
1. Đóng một vị trí thị trường bằng cách thực hiện lệnh ngược để hủy bỏ vị trí đó.
2. Tránh tham gia thị trường kỳ hạn ngoại hối, hoặc các vị trí đi trước và tri hoàn (Leads and Lags).
3. Trong các hợp đồng kỳ hạn, thanh lý đồng thời các vị trí ngắn và dài khi chênh lệch giá giữa tiền mặt và thị trường tương lai nhỏ lại, hoặc trở về mức bình thường. Nếu chênh lệch rút hẹp, vị trí dài và ngắn sẽ đảo ngược. Đây còn được gọi là kinh doanh chênh lệch (Spread Trading).
4. Tránh các khoản thanh toán qua chuyển tiền vô tuyến giữa ngân hàng trong trường hợp ngân hàng không thể thực hiện thanh toán cuối ngày cho các ngân hàng khác.
Bank Identification Number (BIN) / Số Nhận Dạng Ngân Hàng (BIN)
1. Mã số chuyển ABA.
2. Mã số xác định các định chế phát hành thẻ ngân hàng liên kết với Visa International hay Mastercard International. Số BIN là sáu chữ số đầu tiên của số tài khoản. Các ngân hàng sử dụng bảng BIN trong các giao dịch theo tuyến với ngân hàng thích hợp, để xét duyệt tín dụng và thanh quyết toán.
Unsecured Debt / Nợ Không Đảm Bảo
Các công cụ tài chính này không có tài sản thế chấp, dựa vào uy tín của bên phát hành. Chúng không được hỗ trợ bằng tài sản đảm bảo. Xem thêm: COMMERCIAL PAPER; DEBENTURE; NOTE; SUBORDINATED DEBT.
Bank Holiday / Ngày Nghỉ Của Ngân Hàng
1. Các định chế tài chính thống nhất ngày nghỉ lễ quốc gia. Tuy nhiên, ngày nghỉ của các tiểu bang không được quy định chung. Theo luật thương mại thống nhất, các giao dịch liên ngân hàng sẽ bị hoãn đến ngày hôm sau nếu trùng với ngày nghỉ lễ.
2. Một số ngân hàng tạm thời ngừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước. Ngày nghỉ ngân hàng nổi tiếng nhất là "ngày đóng cửa toàn quốc" năm 1933, do tổng thống F.D. Roosevelt ban hành nhằm kiểm soát tình trạng vỡ nợ ngân hàng và phục hồi niềm tin vào hệ thống tài chính.
Unrealized Profit (Or Loss) / Lời (Hoặc Lỗ) Chưa Thực Nhận
Lợi nhuận (hoặc lỗ) trên giấy tờ chứng khoán chưa được nhận khi bị mất trong thực tế. Thường được gọi là lợi nhuận hoặc lỗ trên giấy tờ. Theo quy định kế toán, lợi nhuận chưa thực hiện từ chứng khoán khả mại do suy giảm thị trường phải được ghi nhận trong báo cáo thu nhập của người nắm giữ, dù chứng khoán hoặc hợp đồng tương lai chưa được bán. Trong ngành ngân hàng, quy định này áp dụng cho tài sản tài khoản giao dịch được ngân hàng nắm giữ để giao dịch hoặc cung cấp cho bên thứ ba. Lợi nhuận trên giấy tờ trong danh mục đầu tư hoặc tài khoản tín thác được thực hiện khi chứng khoán đã được bán.
Bank Holding Company / Công Ty Ngân Hàng Mẹ
Công ty kiểm soát một hoặc nhiều ngân hàng thương mại. Các công ty ngân hàng mẹ được giám sát bởi Ủy ban Dự trữ Liên bang. Công ty sở hữu ít nhất 25% số chứng khoán có quyền bỏ phiếu trong một ngân hàng, hoặc kiểm soát đa số trong ban giám đốc, phải lập báo cáo tài chính định kỳ gửi cho Ủy ban Dự trữ Liên bang. Các văn phòng chi nhánh của ngân hàng nước ngoài tại Mỹ cũng được Ủy ban này giám sát. Đạo luật Công ty Ngân hàng Mẹ quy định tiêu chuẩn mua lại, cho phép mua lại giữa các tiểu bang và ngân hàng chi nhánh toàn quốc.
Ban đầu, đạo luật chỉ cho phép công ty ngân hàng mẹ hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Nhưng năm 1999, Đạo luật Gramm-Leach-Bliley mở rộng phạm vi hoạt động, cho phép công ty ngân hàng mẹ đủ điều kiện trở thành công ty tài chính mẹ, cung cấp dịch vụ ngân hàng, tư vấn đầu tư và bảo hiểm. Các công ty ngân hàng mẹ thường có tên chứa từ "banc" hoặc "banc share". Tham khảo thêm: ONE BANK HOLDING COMPANY; PERMISSIBLE NONBANK ACTIVITIES; REGULATION Y.
Unperfected Lien / Quyền Nắm Giữ Thế Chấp Không Đầy Đủ
Quyền lợi đảm bảo tài sản thế chấp của người nắm giữ không thực hiện đầy đủ các bước cần thiết để đảm bảo tính giá trị của trái quyền, như được yêu cầu theo Bộ luật Thương mại thông nhất. Điều này có thể xảy ra khi một bên cho vay không ghi chép đúng báo cáo tài chính kèm theo quyền nắm giữ thế chấp đối với tài sản của bên vay, không phát hiện quyền nắm giữ thế chấp trước đây trong hồ sơ địa chính, hoặc không nộp báo cáo liên tục để mở rộng báo cáo tài chính đang có. Rủi ro của bên cho vay hiện tại không thể thu hồi toàn bộ giá trị trái quyền của nó, nếu vị thế của bên cho vay là chủ nợ được bảo đảm thực thi từ một bên khác. Tòa án thương mại có thể công nhận tính giá trị của trái quyền không đầy đủ trong tranh chấp liên quan đến bên cho vay và bên vay, nhưng quyền nắm giữ thế chấp không đầy đủ có thể bị thách thức từ bên thứ ba. Trái ngược với quyền giữ tài sản thế chấp hoàn hảo.
Unpaid Balance / Số Dư Chưa Thanh Toán
Số dư khoản vay hiện tại hoặc tiền mặt ứng trước đến hạn phải trả. Số dư này có thể là số dư hiện tại trên tài khoản cho vay tín dụng hoặc số dư có hạn, bao gồm phí trễ hạn, nếu không thanh toán. Số dư chưa thanh toán trên 30 ngày có thể được báo cáo như nợ quá hạn đến Cục Tín dụng.
Bank Failure / Phá Sản Ngân Hàng
Việc ngân hàng bị đóng cửa do không thể thanh toán sẽ do cơ quan cấp phép quyết định. Chỉ có các cơ quan như Ủy viên Hội đồng Ngân hàng, cơ quan điều tiết ngân hàng được tiểu bang cấp phép, hay kiểm toán trưởng tiền tệ, người điều phối ngân hàng quốc gia, mới có quyền đóng cửa ngân hàng. Nếu ngân hàng được bảo hiểm liên bang (hiện nay tất cả tiền gửi đều được bảo hiểm) thì FDIC sẽ hỗ trợ, giải quyết các yêu cầu của chủ nợ, bao gồm quyền yêu cầu của người gửi tiền lên đến 100.000 USD mỗi tài khoản. FDIC có thể bán tài sản ngân hàng để đáp ứng các yêu cầu này, và buộc phải giải quyết theo phương pháp phá sản, cách tốn kém nhất cho quỹ bảo hiểm ngân hàng.
Phương pháp tốn kém nhất để giải quyết ngân hàng phá sản là mua và đảm nhận, tức là một ngân hàng khác mua toàn bộ tài sản và đảm nhận nợ tiền gửi của ngân hàng bị phá sản. Trong trường hợp ngân hàng không còn giá trị gì, quỹ bảo hiểm sẽ chi trả cho người gửi tiền có bảo hiểm, lên đến 100.000 USD mỗi tài khoản. Đây được gọi là "chi trả giảm nhẹ," tức là người gửi tiền vượt quá giới hạn bảo hiểm sẽ chịu khoản lỗ.
Khác biệt lớn giữa hai phương pháp là: trong giao dịch mua bán đảm nhận, mọi khoản nợ tiền gửi, dù người gửi có bảo hiểm hay không, đều được thanh toán đầy đủ. Từ khi có bảo hiểm tiền gửi liên bang (bắt đầu thập niên 1930), không có ngân hàng lớn nào ở Mỹ bị đóng cửa bởi cơ quan điều tiết, vì lo ngại sự sụp đổ của ngân hàng lớn sẽ làm đổ vỡ thị trường tài chính.
Lập luận "quá lớn không thể vỡ nợ" (too big to fail) đã được kiểm nghiệm qua nhiều sự kiện, như vụ vỡ nợ của Continental Illinois năm 1984 và khủng hoảng kinh tế 1990-1991, khi các ngân hàng lớn chịu lỗ lớn. Sự sáp nhập ngân hàng thua lỗ do FDIC hỗ trợ tạo ra các định chế mạnh, đồng thời việc mua lại các định chế gặp khó khăn thúc đẩy hoạt động ngân hàng liên tiểu bang trong những năm 1980-1990.
Thông thường, các giao dịch sáp nhập này bao gồm hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm, dẫn đến khoản thanh toán (khoản cho vay), thể hiện sự chênh lệch giữa giá trị tài sản khó đòi tại ngân hàng phá sản và giá mua lại bởi tổ chức mua. Xem thêm: BAILOUT; BRIDGE BANK.
Forward Spread / Chênh lệch hợp đồng kì hạn
Mức chênh lệch giữa giá giao ngay và lãi suất kỳ hạn một tháng. Ví dụ, giá giao ngay là $1 = 1.6510DM, lãi suất kỳ hạn một tháng là $1 = 1.6460. Chênh lệch là 0.0050, gọi là mức chênh lệch kỳ hạn.
Forward Premium / Phí hợp đồng kì hạn
Giá giao sau của một loại tiền hoặc công cụ tài chính cao hơn giá giao ngay. Một nhà giao dịch đưa ra giá chào mua và chào bán là 1.7110 và 1.7120 cho bảng Anh. Phí giao kỳ hạn sáu tháng là 0.0025 và 0.0030, theo thứ tự. Giá đấu thầu và giá chào bán sau khi điều chỉnh sẽ là 1.7135 và 1.7150. Xem FORWARD DISCOUNT.
Forward Forward / Hai vị thế đối nghịch trong tương lai
Hợp đồng thị trường tương lai cho phép doanh nghiệp đặt cược vào hai hướng ngược nhau của thị trường. Ví dụ, mua USD trong 3 tháng và bán USD trong 6 tháng tại thị trường ngoại hối.
Forward Exchange Rate / Tỷ giá hối đoái kì hạn
Mức giá niêm yết áp dụng cho việc giao đồng tiền sau ngày giao ngay (SPOT) hoặc trong hai ngày làm việc. Mức giá kỳ hạn có thể được niêm yết dưới dạng giảm giá (giảm giá kỳ hạn) hoặc phí (phí hợp đồng kỳ hạn), tùy thuộc vào lãi suất, nhu cầu thị trường. Ngoài ra, có thể thực hiện giao dịch tương lai trực tiếp mà không cần mua bán bù trừ trong thị trường giao ngay.
Forward Exchange Contract / Hợp đồng hối đoái kì hạn
Hai bên thỏa thuận trao đổi đồng tiền này lấy đồng tiền khác vào một ngày sau này. Hợp đồng kỳ hạn yêu cầu giao hàng sau ngày thanh toán giao ngay, thường trong vòng mười ngày so với ngày giao dịch. Khác với hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn không tuân theo quy định hối đoái, cũng không liên quan đến việc giao số tiền tiêu chuẩn. Hợp đồng này chỉ có thể hủy bỏ khi cả hai bên đồng ý. Hợp đồng kỳ hạn giúp ngân hàng hoặc khách hàng sắp xếp số tiền cụ thể vào ngày nhất định trong tương lai, với giá trị thị trường hiện tại. Điều này giúp bảo vệ người mua trước rủi ro biến động tỷ giá khi cần dùng ngoại hối để thực hiện nghĩa vụ nợ trong tương lai.
Forward Discount / Chiết khấu kì hạn.
Giá của một đồng tiền trong tương lai thường thấp hơn giá giao ngay nếu giao hàng ngay lập tức. Ví dụ, nếu một hãng niêm yết giá giao ngay đồng bảng Anh là $1.7510 và $1.7520, thì giá kỳ hạn sáu tháng sẽ điều chỉnh thành $1.7470 và $1.7490. Giá kỳ hạn giảm 0.0040 và 0.0030 so với giá giao ngay. Sự chênh lệch này thường phản ánh khác biệt lãi suất giữa hai quốc gia, đồng thời cũng thể hiện kỳ vọng của thị trường về giá thấp hơn trong tương lai.
Forward Delivery / Giao kỳ hạn
1. Thỏa thuận này yêu cầu hai bên trao đổi đồng tiền hoặc tài sản tài chính vào ngày cụ thể sau ngày thanh toán ngay.
2. Thỏa thuận với ngân hàng cầm cố sẽ giao tài sản vào ngày nhất định sau thời gian chờ (ví dụ 30, 60 hoặc 120 ngày). Tài sản này sẽ chuyển cho người mua tại thị trường thứ cấp. Loại giao dịch này còn gọi là "giao chậm".
Forward Commitment / Cam kết trước
Người cho vay có thể chọn áp dụng lãi suất đã thông báo hoặc bán khoản vay cho thị trường thứ cấp trong tương lai. Cam kết này được nêu rõ trong hợp đồng, có thể đáo hạn nếu không được thực hiện đúng hạn. Xem LOCK - IN PERIOD để biết thêm thông tin chi tiết.
Forward Book / Sổ hợp đồng kì hạn
Tổng số hợp đồng kỳ hạn của một trung tâm ngoại hối, với nhiều kỳ đáo hạn khác nhau, cho một đồng tiền cụ thể hoặc cho tất cả các đồng tiền.
Form 10Q / Tờ khai 10Q
Các công ty niêm yết và những doanh nghiệp bắt buộc báo cáo 10K hàng năm phải nộp báo cáo tài chính hàng quý. Báo cáo 10Q không được kiểm toán, trình bày các số liệu tài chính quan trọng về lợi nhuận và chi phí. Báo cáo so sánh dữ liệu hiện tại với thông tin cùng kỳ năm trước.






