Federal Reserve System / Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang
Hệ thống ngân hàng trung ương tại Mỹ, gọi là Fed, được thành lập năm 1913 bởi Đạo luật Dự trữ Liên bang. Hệ thống này gồm 12 ngân hàng dự trữ Liên bang khu vực và 24 văn phòng chi nhánh. Ủy ban các thống đốc của Hệ thống Dự trữ Liên bang đặt trụ sở tại Washington, D.C. Hệ thống cũng có Ủy ban Thị trường Mở Liên bang, Ủy ban Tư vấn Liên bang, và các ngân hàng thành viên sở hữu cổ phiếu tại một trong 12 ngân hàng Dự trữ Liên bang.
Những ngân hàng quốc gia được pháp luật yêu cầu sở hữu cổ phiếu trong Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại khu vực của chúng. Những ngân hàng được cấp phép bởi tiểu bang có thể chọn trở thành thành viên. Tuy nhiên, chỉ khoảng 1.100 ngân hàng như vậy thực sự tham gia.
Hệ thống Dự trữ Liên bang là ngân hàng trung ương liên bang, với trách nhiệm vận hành chia sẻ giữa Ủy ban Thống đốc và 12 ngân hàng khu vực. Hệ thống điều tiết chi phí và khả năng tín dụng ngân hàng thông qua các quyết định chính sách tiền tệ của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang. Hệ thống cũng thiết lập lãi suất triết khấu mà ngân hàng sẽ trả khi vay từ Fed.
Hệ thống chấp nhận các quyết định sáp nhập ngân hàng liên tiểu bang, giám sát các công ty cổ phần ngân hàng, và giám sát hoạt động ngân hàng quốc tế thông qua thỏa thuận với ngân hàng trung ương khác. Xem FEDERAL RESERVE BANK; FEDERAL RESERVE BOARD; FEDERAL WIRE.
Federal Reserve Note / Chứng Nợ Của Cục Dự Trữ Liên Bang
Ngân hàng Dự trữ Liên bang phát hành tiền tệ lưu thông nhằm đáp ứng nhu cầu theo mùa của công chúng. Tín phiếu dự trữ Liên bang là những giấy tờ không chịu lãi suất, được phát hành dưới nhiều mệnh giá từ $1 đến $100, và là giấy tờ pháp lý để thanh toán nợ. Các tín phiếu này phải được phát hành dưới tên Ngân hàng Dự trữ Liên bang.
European Agricultural Guidance And Guaranted Fund / Quỹ Bảo Đảm Và Hướng Dẫn Nông Nghiệp Châu Âu
Một quỹ đặc biệt của cộng đồng châu Âu được thành lập năm 1962 để cung cấp vốn cho chính sách nông nghiệp chung.
Federal Reserve (Fed) / Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) là ngân hàng trung ương của nước này. FED vừa là ngân hàng của các ngân hàng, vừa là ngân hàng của Chính phủ liên bang. Mục tiêu chính của FED là đảm bảo chính sách tiền tệ linh hoạt, an toàn và ổn định hơn cho nền kinh tế Mỹ. Qua lịch sử phát triển, FED đã chứng minh vai trò quan trọng trong hệ thống ngân hàng và nền kinh tế quốc gia. FED được thành lập ngày 23/12/1913 theo đạo luật "Federal Reserve Act" do Tổng thống Woodrow Wilson ký. Cơ cấu của FED gồm 12 ngân hàng dự trữ liên bang và các chi nhánh khác. Quốc gia Mỹ được chia thành 12 khu vực, gọi là "Quận", mỗi khu vực có một ngân hàng dự trữ. Các ngân hàng này đặt trụ sở tại Boston, New York, Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas, San Francisco. Trong số đó, ngân hàng New York có vai trò đặc biệt.
Lãnh đạo FED là Ban Thống đốc gồm 7 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn. 7 thành viên này đóng vai trò quan trọng trong Uỷ ban Thị trường Mở (FOMC), cơ quan quyết định chính sách tiền tệ. Ngoài 7 thành viên, FOMC còn có 5 thành viên khác: chủ tịch ngân hàng dự trữ New York và 4 chủ tịch ngân hàng dự trữ khác. Mỗi thành viên Ban Thống đốc có nhiệm kỳ 14 năm. Họ có thể được tái bổ nhiệm nếu nhiệm kỳ trước không trọn vẹn. Tổng thống bổ nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ban Thống đốc, hai người này giữ chức 4 năm và có thể tái bổ nhiệm nếu vẫn là thành viên.
Chủ tịch FED hiện tại là Ben Bernanke, người thay thế Alan Greenspan từ ngày 1/1/2006. Alan Greenspan từng giữ vị trí này từ năm 1987. FED có các nhiệm vụ chính: thực thi chính sách tiền tệ để ổn định việc làm và giá cả, giám sát ngân hàng để đảm bảo an toàn cho người gửi tiền, cung cấp dịch vụ tài chính cho ngân hàng, Chính phủ và ngân hàng nước ngoài. FED cũng nghiên cứu kinh tế Mỹ và các bang, chia sẻ thông tin qua ấn phẩm, hội thảo và website.
Với vai trò ngân hàng trung ương của nền kinh tế hàng đầu thế giới, mỗi quyết định của FED đều ảnh hưởng sâu rộng đến toàn cầu. Người ta nói vui rằng "một cái hắt hơi của Chủ tịch FED" cũng đủ khiến thị trường chao đảo. Thực tế, các quyết định của FED tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế. Thứ nhất, thay đổi lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh đồng USD. Nếu FED tăng lãi suất, USD sẽ mạnh lên, làm tăng nhập khẩu, giảm xuất khẩu và đầu tư vào Mỹ. Thứ hai, FED điều chỉnh giá trị USD thông qua mua bán ngoại tệ. Ví dụ, nếu Mỹ bán Yen và mua USD, giá USD sẽ tăng, Yen giảm. Do đó, các nhà đầu tư quốc tế luôn theo dõi diễn biến của FED.
Euronext / Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Euronext
Euronext là sàn giao dịch chứng khoán của nhiều quốc gia châu Âu, đặt trụ sở tại Paris và có chi nhánh tại Bỉ, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Anh. Ngoài vai trò là thị trường giao dịch cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán phái sinh, Euronext còn cung cấp dịch vụ thanh toán bù trừ và thông tin. Vào ngày 31/1/2006, tổng giá trị vốn hóa thị trường của các công ty niêm yết trên Euronext đạt 2.900 tỷ USD, xếp thứ 5 thế giới. Nhiều công ty niêm yết trên Euronext thuộc nhóm doanh nghiệp hàng đầu thế giới, như Total, Royal Dutch Shell Amsterdam, France Telecom...
Euronext được thành lập ngày 22/9/2000 sau khi sáp nhập Amsterdam Stock Exchange, Brussels Stock Exchange và Paris Bourse. Mục tiêu là tận dụng lợi thế từ sự nhất quán của thị trường tài chính EU. Tháng 12/2001, Euronext mua cổ phần sàn giao dịch LIFFE. Sàn này vẫn hoạt động độc lập dưới tên gọi của mình. Năm 2002, Euronext tiếp tục sáp nhập sàn giao dịch BVLP. Sàn này đổi tên thành Euronext Lisbon.
Ngày 22/6/2006, Euronext ký hợp đồng sáp nhập vào NYSE với giá 10,2 tỷ USD. Dù đối thủ của NYSE là Deutsche Börse đã trả 11 tỷ USD cho Euronext. Ngày 28/3/2007, NYSE chính thức mua lại Euronext, tạo ra sàn giao dịch chứng khoán toàn cầu đầu tiên, NYSE Euronext. Sàn này cho phép giao dịch 24 giờ mỗi ngày.
Federal Nation Mortgage Association (FNMA) / Hiệp Hội Cầm Cố Quốc Gia Liên Bang
Một tổ chức được thành lập năm 1938 bởi chính phủ Mỹ. Mục đích là hỗ trợ thị trường trong việc xử lý các tài sản thế chấp do chính phủ tài trợ.
Federal Home Loan Bank System (Fhlbs) / Hệ Thống Ngân Hàng Cho Vay Nội Bộ Của Liên Bang
Cơ quan chính phủ Mỹ sử dụng quyền lực trong thị trường tiền tệ để cung cấp thanh khoản cho Hiệp hội tiết kiệm và cho vay.
Federal Funds Rate / Fed Funds Rate / Tỉ Lệ Lãi Suất Cho Vay Nhằm Đáp Ứng Yêu Cầu Dự Trữ Bắt Buộc
Mặc dù các ngân hàng đều muốn cho vay toàn bộ tiền có, nhưng Cục Dự Trữ Liên Bang yêu cầu họ phải giữ một phần tiền mặt (dự trữ bắt buộc) tại chi nhánh của mình. Lãi suất Fed Funds là tỉ lệ các ngân hàng cho nhau vay tiền trong 1 ngày để đáp ứng yêu cầu dự trữ. Mỗi tháng, Fed thông qua Ủy Ban Thị Trường Mở Liên Bang quyết định mức lãi suất này. Mức lãi suất này ảnh hưởng trực tiếp đến các loại lãi suất ngắn hạn như tiền gửi, vay ngân hàng, thẻ tín dụng, và vay thế chấp. Lãi suất dài hạn bị ảnh hưởng gián tiếp.
Lãi suất Fed Funds cao sẽ khiến ngân hàng ít vay tiền hơn để duy trì dự trữ. Họ sẽ cho vay ít hơn và lãi suất cho vay cũng tăng lên, vì họ phải trả lãi cao hơn khi vay từ Fed. Khi vay trở nên đắt đỏ, doanh nghiệp phát triển chậm, ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế. Vay thế chấp cũng đắt hơn, khiến người mua nhà vay ít hơn, ngành bất động sản suy yếu. Giá nhà giảm, người sở hữu cảm thấy nghèo hơn.
Nếu Fed cắt giảm lãi suất 1/4, nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn, thị trường vui mừng. Tuy nhiên, tăng trưởng quá nhanh có thể gây lạm phát. Tăng lãi suất 1/4 giúp kiểm soát lạm phát nhưng làm kinh tế chậm lại.
**Thay đổi lãi suất Fed (1990 – nay)**
| Thay đổi (basis points) | Ngày | Tăng | Giảm | Mức lãi suất (%) |
|------------------------|------|------|------|------------------|
| 50 | 01/30 | - | - | 3.00 |
| 75 | 01/22 | - | - | 3.50 |
| 25 | 12/11 | - | - | 4.25 |
| 25 | 10/31 | - | - | 4.50 |
| 50 | 09/18 | - | - | 4.75 |
| 25 | 06/29 | - | - | 5.25 |
| 25 | 05/10 | - | - | 5.00 |
| 25 | 03/28 | - | - | 4.75 |
| 25 | 01/31 | - | - | 4.50 |
| 25 | 12/13 | - | - | 4.25 |
| 25 | 11/01 | - | - | 4.00 |
| 25 | 09/20 | - | - | 3.75 |
| 25 | 08/09 | - | - | 3.50 |
| 25 | 06/30 | - | - | 3.25 |
| 25 | 05/03 | - | - | 3.00 |
| 25 | 03/22 | - | - | 2.75 |
| 25 | 02/02 | - | - | 2.50 |
| 25 | 12/14 | - | - | 2.25 |
| 25 | 11/10 | - | - | 2.00 |
| 25 | 09/21 | - | - | 1.75 |
| 25 | 08/10 | - | - | 1.50 |
| 25 | 06/30 | - | - | 1.25 |
| 25 | 06/25 | - | - | 1.00 |
| 50 | 11/06 | - | - | 1.25 |
| 25 | 12/11 | - | - | 1.75 |
| 50 | 11/06 | - | - | 2.00 |
| 50 | 10/02 | - | - | 2.50 |
| 50 | 09/17 | - | - | 3.00 |
| 25 | 08/21 | - | - | 3.50 |
| 25 | 06/27 | - | - | 3.75 |
| 50 | 05/15 | - | - | 4.00 |
| 50 | 04/18 | - | - | 4.50 |
| 50 | 03/20 | - | - | 5.00 |
| 50 | 01/31 | - | - | 5.50 |
| 50 | 01/03 | - | - | 6.00 |
| 50 | 05/16 | - | - | 6.50 |
| 25 | 03/21 | - | - | 6.00 |
| 25 | 02/02 | - | - | 5.75 |
| 25 | 11/16 | - | - | 5.50 |
| 25 | 08/24 | - | - | 5.25 |
| 25 | 06/30 | - | - | 5.00 |
| 25 | 11/17 | - | - | 4.75 |
| 25 | 10/15 | - | - | 5.00 |
| 25 | 09/29 | - | - | 5.25 |
| 25 | 03/25 | - | - | 5.50 |
| 25 | 01/31 | - | - | 5.25 |
| 25 | 12/19 | - | - | 5.50 |
| 25 | 07/06 | - | - | 5.75 |
| 25 | 05/01 | - | - | 5.50 |
| 25 | 04/01 | - | - | 5.25 |
| 25 | 03/01 | - | - | 5.00 |
| 25 | 02/01 | - | - | 4.75 |
| 25 | 01/01 | - | - | 4.50 |
| 25 | 12/01 | - | - | 4.25 |
| 25 | 11/01 | - | - | 4.00 |
| 25 | 10/01 | - | - | 3.75 |
| 25 | 09/01 | - | - | 3.50 |
| 25 | 08/01 | - | - | 3.25 |
| 25 | 07/01 | - | - | 3.00 |
| 25 | 06/01 | - | - | 2.75 |
| 25 | 05/01 | - | - | 2.50 |
| 25 | 04/01 | - | - | 2.25 |
| 25 | 03/01 | - | - | 2.00 |
| 25 | 02/01 | - | - | 1.75 |
| 25 | 01/01 | - | - | 1.50 |
| 25 | 12/01 | - | - | 1.25 |
| 25 | 11/01 | - | - | 1.00 |
Federal Funds Rate / Lãi Suất Liên Bang
Lãi suất liên bang là lãi suất mà các ngân hàng thương mại trong nước dùng để cho nhau vay qua đêm. Mục đích là để đảm bảo đủ lượng dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Trung ương. Những ngân hàng có dự trữ vượt mức có thể cho các ngân hàng thiếu hụt vay tạm. Các khoản vay này thường lớn, từ một triệu USD trở lên. Dù được thực hiện theo ngày đáo hạn cố định, chúng có thể được gia hạn thêm. Ngân hàng Trung ương kiểm tra kỹ lưỡng các khoản dự trữ bắt buộc. Lãi suất liên bang được xem là chỉ số quan trọng phản ánh chính sách tiền tệ của nhà nước và xu hướng lãi suất khác. Các nhà phân tích theo dõi sát sao biến động trong lĩnh vực này để dự đoán thay đổi trên thị trường tín dụng. Khi lãi suất liên bang giảm, có thể cho thấy Ngân hàng Trung ương đang nới lỏng dự trữ để kích thích kinh tế. Tuy nhiên, các nhà tài chính khuyến cáo nên cẩn trọng khi dùng chỉ số này, cần kết hợp với các chỉ số khác để đánh giá. Đây là loại lãi suất biến động nhiều nhất, thay đổi hằng ngày để phản ánh nhu cầu chuyển vốn giữa các ngân hàng trong hoạt động tín dụng.
Eurodollar / Eurodollar
Đây là tiền gửi đôla Mỹ tại ngân hàng nước ngoài hoặc chi nhánh Mỹ ở nước ngoài. Cách này giúp eurodollar tránh được quy định của Fed. Sau chiến tranh thế giới II, lượng đôla Mỹ ở nước ngoài tăng nhanh. Nguyên nhân là do kế hoạch Marshall và nhu cầu nhập khẩu lớn vào Mỹ, thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới sau khi châu Âu được tái thiết. Do đó, nhiều ngân hàng nước ngoài nắm giữ đôla Mỹ. Một số quốc gia, bao gồm Liên Xô, có tài khoản đôla tại ngân hàng Mỹ và được đảm bảo bằng giấy chứng nhận. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, đặc biệt sau cuộc xâm lược Hungary năm 1956, Liên Xô lo ngại tài khoản tại ngân hàng Bắc Mỹ có thể bị phong tỏa. Vì vậy, họ chuyển một phần tài khoản sang ngân hàng Moscow Narodny, ngân hàng Liên Xô với sự hỗ trợ của Anh. Sau đó, ngân hàng Anh chuyển tiền sang ngân hàng Mỹ. Như vậy, tiền này không trực tiếp thuộc Liên Xô mà thuộc ngân hàng Anh, nên không bị tịch thu. Ngày 28/2/1957, tổng số tiền chuyển đạt 800.000 USD, đây là eurodollar đầu tiên. Ban đầu, tài khoản đôla tập trung ở châu Âu, nên gọi là eurodollar. Ngày nay, eurodollar vẫn chủ yếu ở châu Âu nhưng cũng có ở Bahamas, Canada, Cayman Islands, Hồng Kông, Nhật Bản, Hà Lan, Panama, Singapore. Thị trường eurodollar linh hoạt, ít ràng buộc nên ngân hàng hoạt động với biên lợi nhuận thấp hơn so với Mỹ. Vì vậy, thị trường eurodollar phát triển mạnh, giúp tránh chi phí trung gian. Tài khoản thường từ 1 triệu USD trở lên, chủ yếu là tài khoản của tổ chức tài chính gửi ở tổ chức khác. Giao dịch eurodollar phổ biến, linh hoạt, thời hạn từ 1 ngày đến 6 tháng, hiếm khi kéo dài 5 năm. Dù tiền được giữ ở nhiều nơi, lãi suất eurodollar chịu ảnh hưởng từ tình hình kinh tế Mỹ. Khi Fed quản lý chặt tài khoản tiền gửi, lãi suất eurodollar tăng, ngược lại giảm. Lãi suất này còn thay đổi theo thời gian trong ngày, tuân theo cung cầu. Do đó, không nên dùng lãi suất này làm tham chiếu. Thay vào đó, có thể dùng lãi suất LIBOR và các loại lãi suất khác.
Federal Fund Market / Thị Trường Tiền Quỹ Liên Bang
Thị trường Mỹ hoạt động dựa trên việc cho vay hoặc vay các khoản tiền có thể sử dụng ngay lập tức. Các giao dịch này thường diễn ra trong ngày, giữa các ngân hàng thành viên hệ thống dự trữ liên bang. Các tổ chức tài chính khác, không phải ngân hàng Mỹ, cũng tham gia vào quá trình này.
Federal Deposit Insurance Corporation (Fdic) / Công Ty Bảo Hiểm Tiền Gửi Liên Bang
Một công ty Mỹ chịu trách nhiệm bảo hiểm các khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại và hiệp hội tiết kiệm, cho vay. Mỗi tài khoản được bảo hiểm lên đến 100.000 đô la tại mỗi tổ chức.
Featherbedding / Bảo Hộ, Bảo Vệ, Tạo Việc Làm (Nhồi Lông Nệm)
Cách tạo việc làm bằng việc sử dụng quá nhiều lao động. Hoặc không áp dụng công nghệ tiên tiến.
Feasible Portfolio / Danh Mục Đầu Tư Khả Thi
Một danh mục đầu tư có thể được xây dựng dựa trên các loại tài sản tài chính hiện có trên thị trường. Trước khi đầu tư vào chứng khoán, nhà đầu tư thường dùng nhiều phương pháp để tạo ra danh mục phù hợp với rủi ro và lợi nhuận mong muốn, bao gồm một hoặc vài loại tài sản khác nhau. Tuy nhiên, không phải danh mục nào cũng thực hiện được trong thực tế. Ví dụ, nếu một danh mục dự kiến có công cụ phái sinh như hợp đồng quyền chọn hay hợp đồng tương lai trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thì danh mục này có thể không khả thi vì thị trường phái sinh ở đây chưa phát triển mạnh. Do đó, khi xây dựng danh mục, cần căn cứ vào các loại chứng khoán thực tế đang có trên thị trường.
Eurocurrency Market / Thị Trường Tiền Tệ Châu Âu
Thị trường quốc tế này tập trung vào các đồng tiền của các nước công nghiệp lớn ở phương Tây. Thị trường mở cửa vào cuối những năm 1950, ban đầu là thị trường đô la Mỹ tại các ngân hàng châu Âu, nhưng sau đó mở rộng để bao gồm tất cả các đồng tiền chính. Các địa điểm hoạt động không chỉ ở châu Âu mà còn có ở Nam Mỹ, Viễn Đông. Điểm nổi bật là các giao dịch vay và cho vay diễn ra bên ngoài quốc gia phát hành đồng tiền đó. Đồng đô la vẫn là đồng tiền quan trọng nhất, chiếm 80% giao dịch. Châu Âu vẫn là trung tâm lớn với 40-50% hoạt động.
Thị trường phát triển nhanh chóng từ khi bắt đầu: doanh số tăng từ 20 tỷ đô la năm 1964 lên 4.920 tỷ năm 1989. Hầu hết các ngân hàng châu Âu không thể đạt được kết quả như vậy vì thị trường chủ yếu gồm các chi nhánh hoặc bộ phận của ngân hàng hiện có, có kết nối điện tử với các đối tác. Khoảng 70% giao dịch là giữa các ngân hàng, giúp thị trường có quy mô lớn hơn khả năng cho vay của người vay cuối cùng.
Những người tham gia thị trường gồm ngân hàng trung ương, tổ chức tài chính quốc tế, doanh nghiệp công nghiệp, một số cá nhân. Thời hạn vay từ 1 ngày đến 10 năm, lãi suất tính theo LIBOR. Chênh lệch lãi suất giữa gửi và vay thấp do giao dịch có giá trị lớn, chi phí ngân hàng nhỏ.
Từ năm 1968, thị trường tiền tệ châu Âu được bổ sung thị trường trái khoán châu Âu. Đây là bộ phận quan trọng nhất của thị trường quốc tế. Trái khoán châu Âu do ngân hàng hoặc chứng khoán bảo lãnh, được bán ở quốc gia không phải nơi phát hành đồng tiền.
Fast Market / Thị Trường Giao Dịch Nhanh
Thị trường giao dịch nhanh là nơi các giao dịch diễn ra rất nhanh. Hệ thống thông tin điện tử không thể cập nhật kịp dữ liệu mới nhất về giao dịch hay tình trạng thị trường. Loại thị trường này thường xuất hiện ở thị trường hợp đồng quyền chọn. Đặc điểm nổi bật là khối lượng giao dịch lớn và biến động giá mạnh. Nguyên nhân thường do lệnh giao dịch mất cân đối, ví dụ như nhiều lệnh bán mà không có lệnh mua. Nhiều sự kiện có thể gây ra thị trường giao dịch nhanh, như một vụ IPO được kỳ vọng cao, thông báo quan trọng từ công ty lớn, hay khuyến cáo từ chuyên gia phân tích. Thị trường này tiềm ẩn nhiều rủi ro. Giá niêm yết có thể không chính xác khi biến động giá quá nhanh so với khả năng cập nhật của hệ thống. Giá niêm yết có thể chênh lệch lớn giữa hai thời điểm gần nhau, không phản ánh đúng biến động thực tế. Khối lượng niêm yết cũng thay đổi nhanh chóng.
Eurobond / Trái Phiếu Châu Âu
Trái phiếu châu Âu là loại trái phiếu do chính phủ, tổ chức tài chính hoặc công ty phát hành, ghi bằng tiền tệ khác với đồng tiền của quốc gia phát hành. Loại trái phiếu này phổ biến nhất là ghi bằng USD. Năm 1996, trái phiếu châu Âu ghi bằng USD chiếm 43,78% tổng số phát hành. Hầu hết các trái phiếu này do các tổ chức có tín nhiệm cao phát hành, như hệ số AAA và AA, chiếm gần 80% tổng số phát hành. Các nhà phát hành chủ lực bao gồm chính phủ, tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Đầu tư Châu Âu và các công ty đa quốc gia.
Một số trái phiếu được phát hành không dùng để mục đích cuối cùng, thay vào đó họ đổi sang tiền tệ cần thiết thông qua nghiệp vụ Swap. Lãi suất của trái phiếu châu Âu phụ thuộc vào điều kiện thị trường và tín nhiệm của nhà phát hành. Trái phiếu châu Âu có nhiều dạng, trong đó phổ biến nhất là trái phiếu có lãi suất cố định, gốc trả một lần khi đáo hạn (gọi là trái phiếu Straights). Loại trái phiếu có lãi suất thả nổi đang được ưa chuộng, lãi suất điều chỉnh 3 hoặc 6 tháng một lần dựa trên lãi suất cơ bản như LIBOR. Các ngân hàng thường ưu tiên đầu tư vào loại này.
Trái phiếu chuyển đổi cho phép người nắm giữ đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường theo giá quy định trước, tại thời điểm nhất định. Điểm hấp dẫn của trái phiếu châu Âu là không phải chịu thuế thu nhập từ lãi suất.
Trái phiếu chính phủ hoặc công ty có mệnh giá theo tiền tệ khác quốc gia phát hành, thường được phát hành dưới hình thức trái phiếu vô danh bởi các doanh nghiệp quốc tế, do ngân hàng thương mại và đầu tư thầu qua Nhóm Bỏ Thầu. Trái phiếu châu Âu có thể phát hành theo một tiền tệ duy nhất, nhiều tiền tệ hoặc đơn vị tài khoản như Đơn Vị Tiền Tệ Châu Âu. Đây là nguồn vốn quan trọng cho doanh nghiệp đa quốc gia, nhưng thanh toán qua Euroclear và Cedel, hai tổ chức thanh toán bù trừ. Vay tiền trong thị trường trái phiếu châu Âu thường có lãi suất thấp hơn. Xem thêm: Samurai Bond, Yankee Bond, Yen Bond.
Family-Unit Agriculture / Nông Nghiệp Theo Đơn Vị Gia Đình
Nông nghiệp thường được tổ chức ở những khu vực phát triển chậm, dựa trên nền tảng gia đình.
Eurobond / Trái Phiếu Phát Hành Bằng Ngoại Tệ
Eurobond là loại trái phiếu được phát hành bằng một đồng tiền khác với đồng nội tệ hay đồng tiền của quốc gia nơi phát hành. Thường, eurobond do các tập đoàn quốc tế phát hành, được phân loại theo đồng tiền ghi mệnh giá. Ví dụ: một công ty Mỹ phát hành trái phiếu tại Pháp bằng đồng Franc thì đó là eurobond. Các công ty lớn phát hành eurobond vì nhiều lý do, nhưng chủ yếu là tìm nguồn vốn với chi phí thấp hơn hoặc tránh các quy định của quốc gia họ. Eurobond là công cụ tài chính hấp dẫn vì giúp họ linh hoạt chọn quốc gia và đồng tiền phát hành. Nhà đầu tư cũng ưa chuộng do loại trái phiếu này thường có mệnh giá thấp và dễ bán.
Dưới đây là một số loại eurobond phổ biến:
- **Eurodollar bond**: trái phiếu ghi mệnh giá bằng USD, do công ty ngoài Mỹ phát hành, được công ty khác ngoài cả hai quốc gia nắm giữ. Thuật ngữ "Eurodollar" chỉ lượng USD do ngân hàng trung ương ngoài Mỹ nắm giữ. Đây là nguồn huy động vốn quan trọng. Ví dụ: công ty Nhật phát hành trái phiếu USD, được công ty Australia mua thì gọi là Eurodollar bond. Ưu điểm là ít quy định, không cần đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Mỹ, và lãi suất thấp hơn so với trái phiếu Mỹ.
- **Bulldog bond**: trái phiếu ghi mệnh giá bằng bảng Anh, do công ty ngoài Anh phát hành tại London. Tên gọi xuất phát từ biểu tượng chó Bull của Anh.
- **Samurai bond**: trái phiếu ghi mệnh giá bằng yên, do công ty ngoài Nhật phát hành tại Tokyo. Tên gọi gắn với biểu tượng của Nhật Bản.
Family Expenditure Survey / Điều Tra Chi Tiêu Gia Đình
Một cuộc khảo sát mẫu hàng năm về thói quen chi tiêu của các hộ gia đình do chính phủ Anh thực hiện.






